Những khoảnh khắc phi thường trong cuộc sống

Giải “Nobel” của Nhiếp ảnh

(Được sự đồng ý của một người bạn có nick Alter Ego, tôi sưu tầm bài này về để anh em nào chưa đọc thì tham khảo :) chân thành cám ơn dịch giả Alter Ego rất nhiều.)

Giải thưởng “Nobel” về nhiếp ảnh : The Hasselblad Foundation International Award in Photography.

Giải thưởng quốc tế về nhiếp ảnh của quĩ Erna và Victor Hasselblad, hay gọi tắt là giải thưởng Hasselblad được coi là giải thưởng cao quí nhất về nhiếp ảnh trên thế giới hiện nay. Giải thưởng này được trao tặng mỗi năm, bắt đầu từ năm 1980 (trừ năm 1983-năm mất của Erna Hasselblad) cho một nhà nhiếp ảnh đạt được những “thành tựu quan trọng”.

Giải thưởng được công bố hàng năm vào dịp ngày sinh của Victor Hasselblad (8/3) và được trao vào dịp tháng 10 hay tháng 11.

Danh sách những người đoạt giải cho đến nay (cùng một giới thiệu ngắn về tác giả) :

1980: Lennart Nilsson, Stockholm, Sweden
Lennart Nilsson là một trong những phóng viên ảnh xuất sắc của Thụy Điển trong một thời gian dài trước khi dành được sự nổi tiếng như là một nhiếp ảnh gia khoa học. Tác phẩm của ông đã chuyển về các nghiên cứu chi tiết của những cơ bản : tự nhiên và cơ thể con người. Để mở rộng tầm mắt của con người vào phía bên trong cơ thể, Lennart Nilsson làm việc với các dụng cụ phóng đại mạnh như các loại kính hiển vi dạng quét electron và các máy nội soi cực mỏng được thiết kế đặc biệt. Ông đã miêu tả được một cơ thể người mới hình thành phát triển như thế nào, cũng như một số những kẻ thù đáng sợ nhất của chúng ta như tế bào ung thư và vi rút bệnh tả. Tác phẩm của ông cho thấy một sự kết hợp tuyệt vời của một tài năng nghệ thuật, sự hiểu biết về sinh học và sự thành thạo kĩ thuật.

1981: Ansel Adams, Carmel, California, USA
Được biết đến cũng như được in ấn một cách rộng rãi, Ansel Adams là một bậc thầy được nể trọng trong trường phái nhiếp ảnh phong cảnh truyền thống. Với sự sáng suốt và sự chính xác, ông hình dung những điểm nhìn ngoạn mục với những chi tiết bản địa giàu có của miền Tây nước Mỹ. Năm 1942 Ansel Adams phát triển “hệ thống vùng” (zone system) sử dụng các kiểm soát kĩ lưỡng của lí thuyết mật độ và những điều chỉnh của đo sáng và tráng rửa phim ảnh. Với tư cách là một nghệ sĩ, một nhà giáo, và một bậc thầy về kĩ thuật nhiếp ảnh, ảnh hưởng của Ansel Adams đã được nhận thấy qua nhiều thế hệ liên tiếp các nhà nhiếp ảnh trên toàn thế giới.

1982: Henri Cartier-Bresson, Paris, France
Henri Cartier-Bresson đã có một ảnh hưởng quyết định trong nhiếp ảnh tư liệu sáng tạo trong nửa thế kỉ. Nhiều thế hệ các nhà nhiếp ảnh đã chịu ảnh hưởng bởi tác phẩm của ông. Ông là một bậc thầy không thể tranh cãi với một số lượng tác phẩm đồ sộ. Ông là nhà nhiếp ảnh đầu tiên đã làm chủ được nghệ thuật ghi lại hiện thực trong dòng chảy liên tục của nó, và đêo gọt sự nhẩt thời thành những bố cục nhiếp ảnh chi tiết và chặt chẽ. Với Cartier-Bresson, nhiếp ảnh là một cách kể các câu chuyện về cuộc sống. Ông nhìn một bức ảnh như một tư liệu, nhiếp ảnh như một nghệ thuật tư liệu. Năm 1947 Cartier-Bresson, Robert Capa, David Seymour và một số người khác dựng lên hãng ảnh nổi tiếng Magnum.

1983: Không trao giải.

1984: Manuel Alvarez Bravo, Mexico City, Mexico
Manuel Alvarez Bravo đã từ lâu được đánh giá là một trong những người làm mới nhiếp ảnh đương đại. Các tác phẩm của ông chủ yếu được biết đến bởi tính hình tượng, sự trữ tình và sự iconography của chúng, bắt rễ tử lịch sử Mê-hi-cô và những truyền thống văn hóa. Ông đã làm cho thế giới biết đến văn hóa Mê-hi-cô một cách đầy sinh động. Ảnh đặc trưng của Alvarez Bravo là trực tiếp và không bị thao tác. Ông đã thành công nhờ vào sự trung thành với – và sự làm chủ của – những yếu tố của ánh sáng, tông màu và bố cục. Cùng một lúc, các tác phẩm của ông có tính hình tượng mạnh mẽ. Điều đó khiến cho Alvarez Bravo trở thành một khuôn mặt đầu đàn cho nhiều thế hệ các nhà nhiếp ảnh Mĩ La tinh.

1985: Irving Penn, New York City, New York, USA
Irving Penn từ lâu đã được nhận biết là một trong những nhà nhiếp ảnh hàng đầu thế giới của nhiếp ảnh xuất bản, quảng cáo và thời trang. Kể từ khi các bức ảnh của ông bắt đầu xuất hiện đều đặn trên tạp chí Vogue những năm 1940, các tác phẩm của ông đã được đặc trưng bởi sự lịch lãm kĩ thuật, sự đòi hỏi về tiêu chuẩn của phong cách và sự nhạy cảm với chất lượng của ánh sáng. Irving Penn là một trong số rất ít những nhà nhiếp ảnh sở hữu khả năng sản xuất những bức ảnh vừa mang tính nghệ thuật bậc thầy vừa mang tính thương mại.

1986: Ernst Haas, New York City, New York, USA
(Ernst Haas qua đời một tháng trước khi lễ trao giải được cử hành)
Ernst Haas là một trong những tên tuổi đương đại hàng đầu trong nhiếp ảnh mầu.Đóng góp của ông cho nhiếp ảnh đen trắng trong một thời gian dài đã bị đánh giá thấp nhưng về sau đã được ưa chuộng. Ernst Haas đã rất cẩn thận gìn giữ sự tự do của mình trong chọn lựa bằng cách không cho phép bản thân bị ràng buộc bởi bất cứ tờ báo nào. Ông chọn lựa cáh đi của chính mình và làm việc theo nhịp của mình cho đến khi chất liệu hình ảnh đạt được tiêu chuẩn mà ông đòi hỏi ở chính mình. Ernst Haas đã trình bày có hệ thống những trải nghiệm thị giác với chiếc máy ảnh và kĩ thuật nhiếp ảnh bằng một cách mới mẻ, sáng tạo và đặc biệt cá nhân.

1987: Hiroshi Hamaya, Tokyo, Japan
Hiroshi Hamaya lá một trong những nhà nhiếp ảnh tư liệu xuất sắc nhất của Nhật Bản hiện tại. Các chủ đề của ông là con người và thiên nhiên. Tuy nhiên mối quan tâm của ông với thiên nhiên không giới hạn ở đồng quê Nhật Bản mà thiên nhiên chưa bị tàn phá trên toàn thế giới. Một phần trong việc ghi lại thiên nhiên, Hamaya cũng đã lưu lại cuộc sống con người trong nhiều biến thể của nó. Cho dù ông chủ định trong những bức ảnh của mình là những sự ghi lại mang tính khoa học, chúng vẫn có một biểu diễn thẩm mĩ: Hamaya đã tạo nên một dạng nghệ thuật của nhiếp ảnh tư liệu.

1988: Edouard Boubat, Paris, France
Edouard Boubat đã được biết đến từ những năm 1940 qua những bức ảnh của ông. Ông là một người thuộc trường phái nhân đạo và là một người sáng tạo hình ảnh duy nhất (mà chúng ta không thể) xếp loại. Boubat là một người kể chuyện muốn nắm bắt trên phim con người, những thái độ của họ và cuộc sống thường nhật của họ. Ông lột tả con người và các khung cảnh với sự ấm áp và những bức ảnh của ông nói về tình yêu, niềm vui và sự kiêu hãnh của con người. Bức ảnh nổi tiếng đầu tiên của Boubat là bức ảnh một cháu bé Pháp nhỏ bé quấn quanh mình những chiếc lá úa. Bức ảnh đó được chụp năm 1946 khi ông 23 tuổi và nó đã ghi lại được không khí nước Pháp sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

1989: Sebastião Salgado, Paris, France
Sebastião Salgado là một trong những nhà nhiếp ảnh hàng đầu và được biết đến rộng rãi trong số các nhà nhiếp ảnh báo chí về phóng sự xã hội lao động đương thời. Ông đã chứng tỏ một khả năng duy nhất trong việc kết nối tính báo chí, sự thâm nhập kín đáo, sự dấn thân trung kiên và các thẩm mĩ nhiếp ảnh. Ông sử dụng phương tiện của mình để kể về những cuộc sống con người, mà ông quan sát với sự tôn trọng nhưng khắc nghiệt những bối cảnh của chúng. Những bức ảnh của ông rất cảm động và quan trọng để giúp ta hiểu các con người và các văn hóa. Tác phẩm của ông cũng là khởi nguồn cho các dự án như “Bác sĩ không biên giới”.

1990: William Klein, Paris, France
William Klein thuộc về số những người đổi mới của nhiếp ảnh hiện đại. Những miêu tả chủ quan của ông về cuộc sông đường phố và thế giới thời trang trần tục được đặc trưng bởi một sự thô tục tư liệu và một tính khắt khe về hình dạng, một “nghệ thuật thô” (‘art brut’) hậu chiến.

1991: Richard Avedon, New York City, New York, USA
Trong hơn 40 năm, Richard Avedon luôn là một gương mặt trụ cột cột của nghệ thuật nhiếp ảnh hiện đại. Đặc biệt, các tác phẩm của ông trên các tạp chí Harper’s Bazaar và Vogue đã đóng góp cho “một cái nhìn mới” trong nhiếp ảnh thời trang và đồ họa. Nhiếp ảnh quảng cáo của ông gây kinh ngạc bởi sự tinh tế thị giác của nó và trên cương vị là một nhà nhiếp ảnh chân dung, Richard Avedon nằm trong những nhà nhiếp ảnh xuất sắc nhất của thời hiện đại.

1992: Josef Koudelka, Prague, Czech Republic
Josef Koudelka là một trong những nhiếp ảnh gia lớn nhât của thời đại chúng ta. Qua những năm tháng vòng quanh thế giới của mình, ông đã miêu tả những hoàn cảnh con người ở nhiều đất nước trong các bức ảnh của ông, chẳng hạn cuộc sống thường nhật của những người Di Gan, các lễ hội và di sản văn hóa của họ. Những bộ ảnh của ông được đặc trưng bởi hình dạng nghiêm ngặt và một cái nhìn nên thơ. Chúng cúng diễn tả một sự dấn thân nhân văn mạnh mẽ và một chủ nghĩa hiện thực xã hội-tư liệu.

1993: Sune Jonsson, Umeå, Sweden
Qua gần nửa thế kỉ, Sune Jonsson đã lột tả sự cô độc và vẻ đẹp khô cằn của phong cảnh miền Bắc Thụy Điển và cuộc sống lao động vất vả hàng ngày của những con người đơn giản. Những hình ảnh lặng lê nhưng sống động, không gây phiền đã đem lại cho chúng ta một tổng quan về một xá hội đang chuyển mình. Trong nhiều cuốn sách, qua nhiều năm, ông đã dệt bằng ngôn từ và hình ảnh để cho ta một tư liệu duy nhất trong tư tư tưởbf của dự án Farm Security Administration tại Mỹ.

1994: Susan Meiselas, New York City, New York, USA
Susan Meiselas, một trong những nhà nhiếp ảnh dẫn đầu trong truyền thống nhân đạo-tư liệu, đã miêu tả những con người trong sự đấu tranh của họ cho sự công bằng xã hội và nhân phẩm, như ta có thể thấy trong các tác phẩm mạnh mẽ của bà từ những cuộc cách mạng Nicaragua và El Salvador, những tác phẩm đã phản ánh sự dấn thân sâu sắc.Trong các bức ảnh của Susan Meiselas có một sự căng thẳng giữa hình dạng và nội dung xã hội.

1995: Robert Häusser, Mannheim, Germany
Robert Häusser là một trong những nghệ sĩ hình ảnh hiện nay của nhiếp ảnh Đức. Tác phẩm của ông có thể được miêu tả như một sự mở rộng và phát triển của “nhiếp ảnh chủ quan” (“subjective photography”), thể loại đã được tung ra và chiếm được sự khen ngợi đáng kể tại châu Âu trong những năm hậu chiến. Những nghiên cứu tạo hình hàm súc của ông về phong cảnh và kiến trúc kết hợp giữa một sự giản lược tinh tế của những điểm chính của các chủ đề của ông cùng với một tông lặng lẽ đáng lo ngại. Tác phẩm của Häusser gợi mở sự tương tác khó hiểu giữa bề mặt và chiều sau.

1996: Robert Frank, New York City, New York, USA
Robert Frank là một trong những nghệ sĩ thị giác hàng đầu thế giới hiện nay. Ông đã góp phần vào sự làm mới lại trong cả lĩnh vực nhiếp ảnh phóng sự và nhiếp ảnh nghệ thuật cũng như trong “nghệ thuật phim Mỹ độc lập”. Với xuất phát điểm là chủ nghĩa hiện thực khách quan của nghệ thuật những năm 1930, Frank đã tiếp tục theo đuổi sự tìm tòi riêng biệt của mình về lẽ phải, bằng bất kỳ phương tiện sáng tác nào, với một sự miệt mài và quyết tâm. Những hình ảnh của ông đã có một ảnh hưởng quyết định trên nhiều thế hệ nhà nhiếp ảnh, họa sĩ, nhà làm phim, nhà phê bình và nhà văn.

1997: Christer Strömholm, Stockholm, Sweden
Từ những năm 1950 Christer Strömholm đã là một trong những nhà nhiếp ảnh Scandinavia đầu đàn và là nhà nhiếp ảnh hậu chiến đầu tiên giành được tiếng tăm quốc tế. Ngay từ những năm 1950 ông đã trở thành thành viên của nhóm nhiếp ảnh Đức Fotoform, và trong khi sống ở Paris vào cuối thập kỉ đó, ông đã phát triển một ngôn ngữ nhiếp ảnh tương tự như chủ nghĩa hiện sinh. Những bức ảnh của Strömholm đã làm nên một đóng góp to lớn trong việc xây dựng nhiếp ảnh như một nghệ thuật độc lập tại châu Âu. Nghoài ra, bằng khả năng sư phạm huyền thoại của một nhà giáo nhiếp ảnh, ông đã gây ảnh hưởng đến nhiều thế hệ các nhà nhiếp ảnh Scandinavia.

1998: William Eggleston, Memphis, Tennessee, USA
William Eggleston là một trong những nhà tiên phong quan trọng trong lĩnh vực ảnh màu từ những năm 1970. Với nhãn quan độc đáo của mình về thế giới thực tại, đặc biệt là của vùng phía Nam nưóc Mỹ, ông đã phát triển ảnh màu như một chất liệu tạo hình độc lập. Ông cũng đi tới việc sử dụng đến tận cùng khả năng của màu sắc, nhìn nó như một đặc tính cơ bản của nhận thức. Với Eggleston, màu sắc đã trở thành một khía cạnh sống còn của việc ghi lại cuộc sống thường nhật và những cái xung quanh nó. Ông đã đưa vào một thẩm mĩ mới, một con đường “dân chủ” mới trong cách nhìn- bị ảnh hưởng nhièu bởi cách nhìn cá nhân hơn là những kiểu mẫu về phong cách trước đây. Cũng giống việc Robert Frank đã lập nên một thẩm mĩ không chính thống nổi trội trong những năm 1950, trong những năm 1970 William Eggleston đã biến đổi khả năng của những điều có thể diễn tả bằng màu sắc.

1999: Cindy Sherman, New York City, New York, USA
Cindy Sherman thiết lập một định hướng mới cho nhiếp ảnh đương đại trong những năm 1970. Bằng việc sử dụng nhiếp ảnh dàn dựng của mình, và với sự bố chí chính mình như nhân vật trung tâm trong một tập hợp phức tạp những kịch bản, Cindy Sherman đã khám phá và thử thách những định kiến xã hội, phê bình và văn hóa quan trọng. Nhiều trong số các tác phẩm của bà liên quan đến vị trí của phụ nữ trong một xã hội tiêu dùng và bị kéo bởi các phương tiện truyền thông, và đến sự châm biếm và phi lí của những cuộc sống của phu nữ đương đại. Bà cũng có thể được nhìn như là một người “phát minh lại” của hai truyền thống nhiếp ảnh quan trọng: siêu thực nhiếp ảnh của những năm 1930 và nghệ thuật ý niệm dựa trên nhiếp ảnh của những năm 1960. Ảnh hưởng của Cindy Sherman trên những thế hệ các nghệ sĩ và nhà nhiếp ảnh đã và còn tiếp tục vô cùng to lớn.

2000: Boris Mikhailov, Charkov, Ukraina
Boris Mikhailov là một nhà nhiếp ảnh đầu đàn không thể bàn cãi với một “Soviet background” hiện nay. Trong những năm gần đây, những cuộc triển lãm và những cuốn sách của ông đã thu hút sự quan tâm to lớn trên thế giiới. Vào thời điểm hiện tại sau sự nghiệp hơn ba mươi, Boris Mikhailov tiếp tục phát triển chủ đề lớn của mình : những câu chuyện của ông về sự sụp đổ của Xô Viết không tưởng. Boris Mikhailov có một lập trường phê phán; tác phẩm của ông luôn mang tính nhân văn trong tiếp cận, với những yếu tố cảm xúc mạnh mẽ và một sự hài hước khiến cho khán giả tại phía Đông và phía Tây đều cảm thấy xúc động. Cho dù làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, ông luôn thành công trong việc tạo ra một nghệ thuật nhiếp ảnh say mê và dấn thân sâu sắc.

2001: Hiroshi Sugimoto, Tokyo, Japan
Hiroshi Sugimoto là một trong những nhà nhiếp ảnh được nể trọng nhất của thời nay Trong những chủ đề nhiếp ảnh chính của ông : những mối tương tác giữa Nghệ Thuật, Lịch Sử, Khoa Học và Tôn Giáo, Sugimoto kết hợp những ý tưởng trầm tư của phương Đông với những mô típ văn hóa phương Tây. Qua 25 năm Sugimoto đã có được những khán giả trên toàn thế giới bởi những bộ ảnh đen trắng đặc trưng và được xây dựng rất công phu của ông. Lấy cảm hứng từ hội họa Phục Hưng và nhiếp ảnh của thế kỉ 19, và sử dụng máy ảnh khổ lớn, , Sugimoto đạt được một giải tông rộng trong một cơ thể tác phẩm phản ánh sự yêu thích lớn của ông về chi tiết, sự làm chủ kĩ thuật tuyệt vời và- hơn tất thảy mọi điều- là sự kinh ngạc của ông trước những nghịch lý của thời gian.

2002: Jeff Wall, Vancouver, Canada
Trong vòng hơn 20 năm, Jeff Wall đã phát triển một khối lượng tác phẩm đồ sộ, sử dụng nhiếp ảnh trong một cách vô cùng sáng tạo và điều đó đã đem đên cho nhiếp ảnh một vị trí lớn trong nghệ thuật đương đại. Với những hình ảnh được dàn dựng công phu, đôi khi với sự can thiệp của kĩ thuật số, được đặt trong những hộp sáng lấy cảm hứng từ những tác phẩm quảng cáp, ông đã khám phá một dải lớn các chủ đề xã hội và chính trị, ví dụ như bạo lực đô thị, phân biệt chủng tộc, đói nghèo, xung đột giới tính và giai cấp, lịch sử, kí ức, sự biểu diễn, và nhiều thứ khác. Những bức ảnh của ông, bằng màu hay đen trắng, luôn giữ được một sự đối thoại với hội họa thế kỉ 19, và khiến cho anh trở thành, theo cách nói của nhà thơ Charles Baudelaire, “họa sĩ của cuộc sống hiện đại”

2003: Malick Sidibé, Bamako, Mali
Malick Sidibé đã ghi lại một thời kì quan trọng của lịch sử Tây Phi với sự dấn thấn, tình cảm, sự hăng say. Trong những chân dung của mình và nhiếp ảnh tư liệu, ông đã lưu lại được không khí và sức sống của một thủ đô châu Phi trong một thời kì chuyển mình lớn. Ngay từ những thời gian đầu của thời kì hậu thuộc địa, ông đã trở thành một một nhân chứng đặc biệt của một thời kì trao đổi văn hóa thăng hoa và mạnh mẽ. Từ khi còn trẻ nhưng đã có một danh tiếng, Malick Sidibé đã ghi lại một thời điểm của sự chuyển dịch. sự vô tư trẻ trung, hiếu kì về phần còn lại của thế giới, lòng kiêu hãnh và niềm tin vào tương lai. Tác phẩm của Malick Sidibé, chủ yếu dành cho tuổi trẻ Mali những năm 1950 và 60, là một ký ức và bằng chứng duy nhất. Những bức ảnh ấy, đầu tiên nhằm tới khán giả châu Phi, ngày nay được ưa chuộng khắp nơi trên thế giới.

2004: Bernd and Hilla Becher, Düsseldorf, Germany
Bernd và Hilla Becher nằm trond những nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn nhất của thời đại chúng ta. Qua hơn bốn mươi năm, họ đã ghi lại di sản của một quá khứ công nghiệp. Với một thứ nhiếp ảnh mang tính của kiến trúc vận hành, thường tổ chức những bức ảnh theo các bảng kẻ ô vuông, họ đã giành được một sự ghi nhận như là những nghệ sĩ ý niệm cũng như là những nhà nhiếp ảnh. Với cương vị là những người sáng lập ra cái được biết đến dưới cái tên “trường phái Becher” họ đã đem lại một ảnh hưởng quan trọng cho những thế hệ nhà nhiếp ảnh tư liệu hay các nghệ sĩ.

2005: Lee Friedlander, New City, New York, USA
Lee Friedlander là một trong những nhà nhiếp ảnh đương đại đáng kể nhất, sáng tạo nhất và ảnh hưởng nhất, với một thành tựu trọn đời trải rộng qua năm mươi năm qua Cái phân biệt tác phẩm của Friedlander trước hết không phải là kĩ thuật của ông mà là ở nhãn quan và quan niệm thẩm mĩ mà ông thể hiện. Bằng cách ghi lại những hiện tượng của cuộc sống hằng ngày và bởi một sự quan sát mang chất phê bình xã hội bao quanh ông, Friedlander đã trở thành tâm điểm trong việc định nghĩa một thể loại riêng biệt dựa trên quan niệm về “phong cảnh xã hội” ( “social landscape”). Tác phâem của ông chứa đựng một “mấu mực tư liệu mới” mà ở đó những sáng tạo về phong cách và sự tự do thoát khỏi những phương pháp chính thống được tạo dựng từ trước đã gây ảnh hưởng tới các tác phẩm của những thế hế nhà nhiếp ảnh về sau.

2006: David Goldblatt, Johannesburg, South Africa
Tác phẩm của David Goldblatt là một quan sát dài lâu về sự phát triển xã hội và chính trị trong lòng xã hôi Nam Phi. Ông đã quan tâm đến việc khám phá mối quan hệ giữa những cá thể con người và các hệ thống kiến trúc mà họ sông bên trong đó. Mối quan tâm của ông về lịch sử đầy bao lực của đẩt nước ông và mối lo ngại về ý nghĩa tượng trưng của kiến trúc tạo thành một phát biểu tuyệt vời vừa mang tính cá nhân vùa mang tính xã hội-chính trị. Nhiếp ảnh, theo ngôn từ của David Goldblatt, làm hiện lên “cái gì đó của sự tinh tế và khó hiểu của sự dịch chuyển của chúng ta và những nhận thức thường xuyên phí lí của hiện thực.” Lí do vì sao Goldblatt được chọn trao giải thưởng Hasselblad đó là bởi vì những bức ảnh của ông rất tinh tường trong các nhận thức lịch sử và chính trị. Chúng đem lại một bức thảm của cuộc sống thường nhật và một chi tiết quan trọng của thông tin bị thiếu : thông tin liên quan đến cuộc sống dưới chế độ A-pác-thai tại Nam Phi.

2007: Nan Goldin, New York, USA.
Nan Goldin là một trong những nhà nhiếp ảnh đáng kể nhất của thời đại chúng ta. Bà đã ghi lại cuộc sống của chính mình và của những người bạn -gia đinh mở rộng của bà- trong vòng hơn 30 năm, tập trung vào khung cảnh đô thị tại New York và châu Âu những năm 1970, 80 và 90, bị đánh dấu một cách bi kịch bởi SIDA và HIV. Tác phẩm của bà, dựa trên thẩm mĩ trực tiếp của nhiếp ảnh lấy ngay, giới thiệu cuộc sống riêng tư của bà như một tác phẩm nghệ thuật; thầm kín, xinh đẹp, và với một sử dụng mãnh liệt của màu sắc. Cách trình bày tác phẩm của bà dưới dạng các buổi chiếu phim dương bản đã vang vọng trong tác phẩm của các nhà nhiếp ảnh của hơn một thế hệ. Cách sử dụng nhiếp ảnh của bà như một ký ức, như một phương tiện bảo vệ lại sự mất mát và như một hành vi bảo tồn đáp ứng được cho những điều cần thiết trong thời đại chúng ta.

—-
Dịch giả : Alter Ego
Nguồn tham khảo tại website của hãng Hassleblad.

Share and Enjoy:
  • Digg
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Google Bookmarks

9 Responses Subscribe to comments

  1. tinhtang | Jan 14, 2009 @ 4:03 am

    Bài này hay, nhiều thông tin bổ ích, giá như có thêm ảnh minh họa của các cụ này thì tuyệt.

  2. haithanh | Jan 14, 2009 @ 2:04 pm

    mình lười search quá bạn Tình ạ :D

  3. fridaycafe | Jan 14, 2009 @ 11:26 pm

    Trong danh sách này em nghe nói đến mỗi 3 cụ: Ansel Adams, HCB và Ernst Haas. Mình đúng là photography illiterate :D

  4. haithanh | Jan 14, 2009 @ 11:43 pm

    nếu chịu khó search từng cụ bảo đảm tìm được ối thứ hay ho đấy :D

  5. bachty | Jan 15, 2009 @ 7:02 pm

    hay quá phải search dần thôi :D

  6. Bòv | Jan 19, 2009 @ 2:13 am

    Cụ Haithanh có bài thuốc này bổ quá :)

  7. street-eyes | Apr 08, 2009 @ 8:03 am

    Paris đang có triển lãm của cụ Robert Frank và có bán quyển The Americans nổi tiếng của cụ. Có bác nào thích mua ko ạ?

  8. thminh | Apr 08, 2009 @ 8:25 am

    chào mừng bạn bonny/street eyes! bạn có bản mềm thì tốt quá. hay bạn cứ mua sách đi, khi nào hồi hương cho mình mượn :D

  9. street-eyes | Apr 09, 2009 @ 5:20 am

    Dạ vâng, chắc cháu cũng cố nhịn ăn khuân 1 quẩn. Mỗi tội là bằng tiếng Pháp mà nhà cháu thích Ăng lê vơ sần hơn nên đợi xem thế nào.

Reply